Thứ Hai | 29/06/2015 | 12:29

Điều trị viêm khớp phản ứng

Điều trị viêm khớp phản ứng

Mức độ nặng nhẹ của bệnh VKPƯ rất khác nhau từ đau mỏi các khớp đến tình trạng viêm khớp ngoại biên và các tổn thương ngoài khớp trầm trọng vì vậy  các liệu pháp điều trị gồm các giai đoạn khác nhau để phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng và giai đoạn bệnh. Hiện nay điều trị bệnh VKPƯ gồm có hai giai đoạn:

1. Điều trị giai đoạn cấp tính

- Thuốc chống viêm không steroid (CVKS): Là thuốc điều trị cơ bản phải điều trị kéo dài đến khi đạt được hiệu quả giảm viêm, hiện nay không có nhóm CVKS nào được ưu tiên lựa chọn trong điều trị bệnh VKPƯ, chỉ đinh thuốc điều trị phụ thuộc vào đáp ứng của người bệnh:

Indomethacine (viên 75mg), uống ngày 1 viên vào lúc no. Lưu ý tác dụng phụ trên đường tiêu hoá (đau thượng vị, rát vùng dạ dày, ợ hơi, ợ chua, xuất huyết tiêu hoá...), giảm tiểu cầu, và dị ứng thuốc.

Diclofenac (viên 25 mg), uống ngày 2-4 viên vào lúc no

Các thuốc kháng viêm không steroid thuộc nhóm ức chế men cyclooxygenase COX-2 như: Meloxicam (7.5-15 mg/ ngày), Rofecoxib (12.5-25mg/ngày), Nimesulid (200mg/ngày)... là nhóm thuốc an toàn, ít tác dụng phụ trên đường tiêu hoá, dung nạp thuốc tốt tuy nhiên giá thành chi phí điều trị cao.

- Kháng sinh: Cần phải điều trị kháng sinh ngay trong đợt viêm khớp cấp tính nếu có kèm theo nhiếm khuẩn đường niệu dục, tiêu hoá... nhằm hạn chế sự phát tán của KN vi khuẩn và làm rút ngắn thời gian tiến triển của bệnh.  Các nhóm kháng sinh điều trị có hiệu quả nhất trong bệnh VKPƯ là các kháng sinh tetramycine, erythromicine, và hiện nay là nhóm quinolol.

Tetracycline (viên) 0.25 g, uống 2g một ngày chia 2 lần. Không chỉ định điều trị nhóm thuốc này cho trẻ em vì có nguy cơ làm hỏng men răng

Docyciclline (viên) 0.25 g, uống 4 viên một ngày chia 2 lần

Ciprofloxacine (viên) 0.4g, uống một ngày hai viên chia 2 lần.  Chống chỉ định điều trị thuốc này cho bệnh nhân dưới 12 tuổi.

Tuy nhiên hiệu quả của điều trị kháng sinh trong bệnh VKPƯ còn có nhiều ý kiến không thống nhất.

- Điều trị tại chỗ: Tiêm phần mềm quanh khớp, các điểm bám gân, bao gân, các lồi cầu xương bằng các chế phẩm corticoid dạng nhũ dịch (Hydrocortison acetate, Triamcinolol, Beta-methason....) là một trong các liệu pháp điều trị tại chỗ có hiệu quả, an toàn và chi phí thấp cho người bệnh.

Điều trị corticoid toàn thân không có hiệu quả và chỉ nên chỉ định thận trọng trong một số ít trường hợp không đáp ứng điều trị với thuốc CVKS và trường hợp viêm nhiều khớp. Liều corticoid trung bình 30-50 mg/ngày, khi đạt được hiệu quả điều trị phải giảm liều dần và tiếp tục phối hợp điều trị với CVKS.  Không được điều trị bệnh VKPƯ bằng corticoid toàn thân kéo dài quá 1-2 tháng để tránh các tác dụng phụ của thuốc.

- Điều trị vật lý trị liệu: có hiệu quả tốt trong các trường hợp có tổn thương viêm khớp và tổn thương phần mềm quanh khớp: chườm lạnh các khớp viêm, để các khớp viêm ở tư thế cơ năng nhưng không được bất động tuyệt đối. Trường hợp nặng có yếu cơ, teo cơ, dính khớp phải có các bài tập phục hồi chức năng. Phối hợp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng sẽ giúp người bệnh chóng phục hồi chức năng vận động khớp và có thể rút ngắn được thời gian dùng thuốc CVKS.

2. Điều trị giai đoạn mạn tính

- Thuốc CVKS: điều trị như giai đoạn cấp tính nhưng thời gian điều trị có thể kéo dài hơn cho đến khi ổn định được tổn thương khớp.  Cần lưu ý các tác dụng phụ của thuốc CVKS trên hệ thống tiêu hoá, gan, thận... vì bệnh nhân đã có thời gian dài điều trị thuốc.

- Nhóm thuốc điều trị cơ bản bệnh (Desease Modifying Anti Rheumatis Drugs: DMADRs): đây là nhóm thuốc quan trọng được chỉ định càng sớm càng tốt, thường điều trị phối hợp với nhóm thuốc giảm đau chống viêm không steroid, thuốc có hiệu quả sau thời gian điều trị 1-3 tháng.

Sulfasalazine (Salazopyrine):  Là thuốc được lựa chọn đầu tiên nhất là ở bệnh nhân VKPƯ có các triệu chứng ở đường tiêu hoá (viêm đại tràng mạn tính, hội chứng Crohn...). Thuốc bắt đầu điều trị từ liều thấp 0.5-1g/ngày sau đó tăng liều lên 2-3g/ngày, và điều trị duy trì kéo dài từ 3-6 tháng. Lưu ý các tác dụng phụ của thuốc: rối loạn tiêu hoá, ban ngoài da, loét miệng...

Trường hợp VKPƯ có tổn thương nhiều khớp nhỏ và nhỡ giống như bệnh cảnh lâm sàng của bệnh viêm khớp dạng thấp nên điều trị các thuốc cơ bản như:  Methotrexate (7.5mg/tuần), muối vàng (hiện nay ít sử dụng vì nhiều tác dụng phụ và hiệu quả kém Methotrexate). Các thuốc này điều trị kéo dài từ 3-6 tháng.

Gần đây đã có các nghiên cứu công bố về hiệu quả điều trị tốt của các tác nhân sinh học: kháng thể đơn dòng chống yếu tố hoại tử u (anti-TNF anpha: Remicade, Infliximab....) trong điều trị bệnh VCSDK và VKPƯ. Do chi phí điều trị nhóm thuốc này quá cao nên chưa được áp dụng điều trị rộng rãi cho các BN bị bệnh VKPƯ nói riêng và nhóm BLCSTHTAT nói chung.

- Điều trị tổn thương ngoài khớp

+ Tổn thương mắt: phải được chẩn đoán và điều trị tại chuyên khoa mắt, đặc biệt các tổn thương viêm mống mắt thể mi, viêm động mạch võng mạc mắt.

+ Tổn thương da: trong trường hợp viêm thượng bì sừng hoá có thể điều trị các thuốc bôi ngoài da (acid salicylic, mỡ corticoid...), kết hợp với điều trị methotrexat, vitamin E.

+ Các tổn thương tại thận như viêm cầu thận thường nhẹ và thoáng qua.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chủ đề liên quan

Báo lỗi

Gửi câu hỏi cho Bác sĩ tư vấn

Xem thêm


Cơ quan chủ quản: Công ty Truyền thông Viettel (Viettel Media) – Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội.

GP: Số 351/GP-TTĐT do Sở TT&TT Hà Nội cấp ngày 25/01/2017

Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà The Light, KĐT Trung Văn, đường Tố Hữu, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Trụ sở: Số 1 Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Võ Thanh Hải

Hotline: 0965.350.350 – CSKH: 198 (Miễn phí)

Liên hệ quảng cáo: 0969.16.17.18 - Email: hoptac@viettel.com.vn

Các thông tin trên SongKhoe.vn chỉ mang tính chất tham khảo, khi áp dụng phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ.

Chúng tôi tuyệt đối không chịu bất cứ trách nhiệm nào do việc tự ý áp dụng các thông tin trên SongKhoe.vn gây ra.