Thứ Tư | 03/06/2015 | 15:34

Điều trị dày sừng ánh sáng

Điều trị dày sừng ánh sáng

Phương pháp điều trị:

- Dày sừng ánh sáng có thể không đổi, tự thoái triển hoặc tiến triển thành ung thư tế bào vảy. Thường không đoán được chúng sẽ diễn tiến theo hướng nào mặc dù nguy cơ tiến triển của dày sừng ánh sáng thành ung thư tế bào vảy là nhỏ (chỉ khoảng 10%), một bệnh nhân có thể có nhiều sang thương và dó đó, tỉ lệ này trở nên đáng kể. Thêm vào đó, dày sừng ánh sáng có thể khó phân biệt trên lâm sàng  với các thương tổn da ác tính hơn như ung thư tế bào vảy và đốm nâu ác tính. Điều trị thường được bệnh nhân tiếp nhận tốt và đơn giản; do đó, điều trị dày sừng ánh sáng được đặt ra.

- Phương pháp điều trị thường được lựa chọn dựa trên số lượng sáng thường và hiệu quả của điều trị. Các yếu tố khác cần cân nhắc bao gồm mức độ dai dẳng của sang thương, tuổi bệnh nhân, tiền sử về ung thư da và mức độ chịu đựng của bệnh nhân với phương pháp điều trị. Điều trị bao gồm 2 nhóm chính:

+ phẫu thuật triệt để sang thương và

+ điều trị nội khoa.

- Điều trị bắt đầu với việc giáo dục bệnh nhân hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Bệnh nhân nên được cảnh báo tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều càng nhiều càng tốt. Họ cũng nên mang quần áo chống nắng và sử dụng chất chống nắng hằng này.

- Điều trị nội khoa có ưu điểm là điều trị được vùng da lớn có nhiều sang thương. Điều bất lợi là điều trị thường kéo dày và thường gây khó chịu. FDA đã phê chuẩn 4 thuốc dùng để điều trị dày sừng ánh sáng. Các thuốc này gồm: 5-FU, 5% và 3.75% immiquimod dạng kem hoặc dung dịch, diclofenac thoa da, và liệu pháp quang động kèm với delta-aminolevulinic acid.

* 5-Fluorouracil:

- Thuốc thoa tại chỗ được dùng nhiều trong nhất trong điều trị dày sừng ánh sáng là 5-FU, chất này ức chế tổng hợp thymidylate và gây ra chết tế bào ở các tế bào có nhiều hoặc động tăng sinh. Có nhiều dạng, bao gồm dạng cream 5% hoặc dạng dung dịch, dạng dung dịch 2%, dang cream 1% hoặc dung dịch 1%, và gần đây là dạng cream 0.5%. Mặc dù chưa được nghiên cứu nhiều nhưng hiệu lực của các dạng trên dường như là không có sự khác biệt.

- Dạng thường dùng nhất là cream 5%, được thoa 2 lần mỗi ngày trong 1 tháng. Trong quá trình điều trị, các sang thương trở nên đỏ và gây khó chịu; các sang thương nhỏ không nhìn thấy trên lâm sàng giờ trở nên rõ hơn. Phương pháp điều trị này có thể tạm thời gây biến dạng, bao gồm việc hình thành các loét đỏ và tạo vẩy. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân hoàn thành liệu pháp điều trị thì các sang thương thường lành trong vòng 2 tuần sau khi ngưng điều trị, da trở nên mịn và dày sừng ánh sáng được cải thiện.

- Dạng cream 0.5%  được phát triển để tăng tính dung nạp của bệnh nhân bởi vì viêm và cảm giác khó chịu có thể là yếu tố bất lợi trong việc dùng 5-FU thoa tại chỗ. Dang này được dùng mỗi ngày 1 lần trong 1 tháng.

- Sử dụng dạng cream 0.5% trong 1 tuần trước khi phẫu thuật cắt lạnh cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể so với việc chỉ phẫu thuật cắt lạnh đơn thuần (tỉ lệ tương ứng là 32.4% và 12%)

Điều trị dày sừng ánh sáng - ảnh 1

Dày sừng ánh sáng có nhiều phương pháp điều trị (Ảnh: Internet)

Bệnh nhân điều trị với 5-FU thoa tại chỗ. Dày sừng ánh sáng ngay sau khi điều trị với 5-FU thoa tại chỗ

* IMIQUIMOD

- Imiquimod là thuốc thoa tại chỗ làm tăng lượng cytokine và từ đó kéo thao các đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu (interferon, tế bào diệt tự nhiên) và đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (thông qua tế bào T). Thuốc được thoa 2-3 lần mỗi tuần, thường được thoa trong vòng 1 tháng là đủ nhưng cũng có thể kéo dài lên đến 4 tháng. Phản ứng thuốc bao gồm dị ứng (một vài bệnh nhân chỉ dị ứng nhẹ trong khi người khác lại có viêm rõ rệt). Các sang thương trước đây không thấy trên lần sàng có thể trở nên viêm trong quá trình điều trị. Ở bệnh nhân có phản ứng viêm thoáng qua, liều được giảm xuống còn 2 hoặc thậm chí 1 lần mỗi tuần. Điều này cũng duy trì được tính hiệu lực của thuốc và tăng khả năng dung nạp của bệnh nhân.

- Có 2 dạng mới của immiquimod (2.5% và 3.75%) dã được nghiên cứu và chó thấy hiệu quả trong việc loại bỏ dày sừng ánh sáng (tỉ lệ là 25% và 34%). Mặc dù không hiệu quả như imiquimod 5%, dạng mới ít gây khó chịu hơn và do đó bệnh nhân thường tuân thủ theo phác đồ hơn. Các bằng chứng thử nghiệm gợi ý rằng bệnh nhân có thể tạo ra hiệu ứng nhớ tể bào T sau điều trị với thuốc này và do đó ít có khả năng bị các dày sừng ánh sáng mới trong tương lại. Imiquimod 5% dạng cream cũng an toàn và hiệu quả ở bệnh nhân cấy ghép.

* DICLOFENAC SODIUM 3% BÔI TẠI CHỖ DẠNG GEL

Thuốc thoa diclofenac sodium 3% là một loại thuốc khác viêm không steroid được phê chuẩn bới FDA dùng trong điều trị dày sừng ánh sáng. Cơ chế tác dụng trong điều trị dày sừng ánh sáng là không rõ. Thuốc này hiệu quả khi dùng 2 lần mỗi ngày trong 3 tháng. Điều trị ngắn hơn thường có hiệu quả ít hơn. Lợi điểm chính của thuốc nà là nó hầu như không tạo ra phản ứng viêm và do đó được dung nạp rất tốt. Diclofenac dùng sau khi phẫu thuật cắt lạnh cũng cho thấy mức độ loại bỏ dày sừng ánh sáng cao hơn khi phẫu thuật cắt lạnh đơn thuần (64% và 32%).

* LIỆU PHÁP QUANG ĐỘNG

- Liệu pháp quang động sử dụng các hỗn hợp nhạy cảm ánh sáng (các hỗn hợp này tích tụ nhiều ở các tế bào dày sừng ánh sáng), các hỗn hợp này có thể được kích hoạt bởi bước sóng ánh sáng thích hợp. Delta-aminolevulinic acid là thành phần của con đường sinh tổng hợp heme, chúng thường tích lũy trong các tế bào bất sản. Một khi đã vào tế bào chúng chuyển hóa thành protoporphyrin IX, một chất nhạy cảm ánh sáng mạnh. Khi tiếp xúc với ánh sáng thích hợp, oxygen gốc tự do được tạo ra và tế bào sẽ chết.

- Bệnh nhân cảm thấy đau ở cùng điều trị giống như khi thoa 5-FU. Vùng sang thương điều trị có thể trở nên đỏ và tạo vẩy. Điều trị với liệu pháp quang động của hiệu quả tương tự như khi điều trị với 5-FU.

- Bệnh nhân ức chế miễn dịch cũng hưởng lợi ích từ điều trị với liệu pháp quang động trong việc ngăn ngừa ung thư không phải melanom ở da.

- Khi sử dụng với nguồn ánh sáng thẩm mỹ, nhử là laser màu dạng xung hoặc IPL, lợi ít về mặt thẩm mỹ có thể thấy được. So với các liệu pháp điều trị tàn phá khác như phẫu thuật cắt lạnh, liệu pháp quang động cho kết quả tốt hơn về mặt thẩm mỹ và được bệnh nhân ưa thích hơn.

- Một đặc điểm chưa được rõ khi dùng liệu pháp quang động là thời gian chờ sau khi thoa aminolevulinic acid trước khi bắt đầu dùng ánh sáng chiếu vào. Một đặc điểm khác cũng chưa được rõ là nguồn sáng tối ưu dùng cho điểu trị này. Các nghiên cứu đang được tiến hành.

* PHẪU THUẬT

- Mục tiêu của phẫu thuật là loại bỏ hoàn toàn dày sừng ánh sáng mà ít gây thương tổn cho mô xung quanh nhất. Khi chẩn đoán là không rõ ràng và có khả năng là một khối u xâm lấn thì nên sinh thiết. Tuy nhiên sinh thiết thường để lại sẹo.

- Phẫu thuật cắt lạnh là dùng chất gây lạnh làm giảm nhiệt độ của da và gây ra chết tế bào. Chất gây lạnh thường dùng nhất là nitrogen lỏng (nhiệt độ vào khoảng 195,80 độ C). Tế bào keratin chết khi tiếp xúc với nhiệt độ khoảng -40 đến -500C. Các cấu trúc khác của da như collagen, mạch máu, thần kinh thường chống chọi tốt với lạnh hơn các tế bào keratin. Tế bào melanin thường nhạy hơn tế bào keratin; do đó, phẫu thuật cắt lạnh thường để lại các đốm trắng. Phương pháp này vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng kể từ năm 2004 (tỉ lệ khỏi bệnh là khoảng từ 67-88%).

- Sang thương gợi ý ung thư xâm lấn thì dùng curet, nạo hoặc cắt bỏ và một phần mô được gửi làm giải phẫu bệnh. Các phương pháp điều trị này cần gây tê cục bộ, cần thời gian để lành và thường để lại sẹo.

- Các phương pháp thẩm mỹ tái tạo bề mặt da bằng cách lấy đi lớp thượng bì (có thể cả một phần lớp bì) cũng có hiệu quả trong việc loại bỏ dày sừng ánh sáng. Các phương pháp thẫm mỹ này có thể dùng chất hoá học, lóc da, dùng laser mài mòn da. Tất các các phương pháp này đều có thể để lại sẹo, việc này tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của chuyên gia phẫu thuật thẩm mỹ. Chúng ít khi được thực hiện chỉ để điều trị dày sừng ánh sáng.

* Dinh dưỡng: Một nghiên cứu cho rằng chết độ dinh dưỡng ít chất báo làm tăng khả năng mất đi của dày sừng ánh sáng và ít sinh ra dày sừng ánh sáng mới hơn.

* Hoạt động: Hướng dẫn bệnh nhân cẩn thận khi tiếp xúc với ánh mặt trời, sử dụng chất bảo vệ và quần áo bảo vệ. Ngoài ra cần giới hạn thời gian hoạt động ngoài trời trong khoảng thời gian từ 10:00 sáng đến 3:00 chiều.

* Một số loại thuốc: Mục thiêu của dùng thuốc là làm giảm tỉ lệ tử vong và ngăn ngừa biến chứng.

* Chất chống sinh u thoa tại chỗ

- Phân nhóm: DOC là chất 5-FU thoa tại chỗ dạng lotion hoặc cream, chất này ức chế sự phát triển và tăng sinh của tế bào.

Fluorouracil topical (Fluoroplex, Carac, Efudex): Dùng thoa tại chỗ để điều trị dày sừng ánh sáng. Can thiệp vào quá trình tổng hợp DNA bằng cách ngăn chặn methyl hoá của deoxyuridylic acid thông qua ức chế men thymidylate synthetase và từ đó ức chế sự tăng sinh của tế bào. Đối với các sang thương ở da đàu hoặc tứ chi, cần điều trị dài hơn thông thường.

* Chất điều hoà miễn dịch dạng thoa tại chỗ

- Phân nhóm: Nghiên cứu imiquimod cho thấy nó tác động lên interferon alpha và gamma, TNF-alpha, interleukin 12. Nghiên cứu dùng dạng cream 5% ở chuột cho thấy có sự tăng hoạt động đáng kể của interferon alpha ở vị trí thoa thuốc, điều này có thể xảy ra rất sớm (vào khoảng 2 giờ sau khi thoa thuốc). Sau 4 giờ thoa thuốc, có sự tăng hoạt động của mRNA interferon alpha. Ngoài ra cũng có sự tăng lên của cytokin và điều này được cho là do imiquimod gắn kết vào thụ thể giống Toll VII (Toll-like receptor VII)

Imiquimod (Aldara 5% cream, Zyclara 3.75% cream): Tính chất làm thay đổi đáp ứng miễn dịch tạo ra đáp ứng không đặc hiệu chống lại dày sừng ánh sáng (thông qua interferon, tế bào diệt tự nhiên) và đáp ứng miễn địch đặc hiệu (tế bào T độc tế bào). Được chỉ địng dùng trong các trường hơp dày sừng ánh sáng điển hình, không tăng sừng nhiều, không  phì đại ở da mặt hoặc da đầu.

* Tác nhân nhạy cảm ánh sáng thoa tại chỗ

- Phân loại: Dùng chung với liệu pháp quang động

Aminolevulinic acid (Levulan), Methyl aminolevulinate cream (Metvixia)

- Tiền chất porphyrin sử dụng kết hợp với ánh sáng đỏ phổ hẹp để điều trị dày sừng áng sáng không tăng sừng nhiều, không thẫm nhiễm. Khi dùng với liệu pháp quang động, sự tích tụ của porphyrin hoạt hoá tạo ra phản ứng quang động và từ đó gây ra độc tế bào.

- Liệu pháp quang động kết hợp với aminolevulinic acid được dùng qua 2 giai đoạn, đầu tiên là thoa thuốc và sau đó là dùng ánh sáng xanh chiếu vào 14-18 giờ sau đó; liệu pháp có thể lặp lại sau mỗi 8 tuần.

- Levulan: dung dịch thoa tại chỗ 20%  dùng thoa trực tiếp vào các sang thương dày sừng ánh và không bôi vào vùng da xung quanh. Nên thoa vào cả da đầu và mặt nhưng không nên thoa cùng lúc. Khuyến nghị diều trị là 1 lần thoa và 1 lần chiếu sáng cho mỗi vị trí ở liệu trình điều trị kéo dài 8 tuần.

* Kháng viêm không steroid dạng thoa tại chỗ

Diclofenac topical (Solaraze)

Thành phần hoá học là 2-[(2,6-dichlorophenyl) amino] benzeneacetic acid, muối monosodium, công thức hoá học là C14 H10 Cl2 NO2 Na. Có tác dụng kháng viêm và giảm đau. Chúng được ho là ức chế men cyclooxygenase (chất quan trong trong sinh tổng hợp prostaglandins. Có thể gây độc gan, do đó nên kiểm tra men gan trong 8 tuần đầu điều trị. Dùng thoa tại chỗ như là chất tiêu sừng để điều trị dày sừng ánh sáng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chủ đề liên quan

Báo lỗi

Liên quan đến bệnh

Xem thêm

Cơ quan chủ quản: Công ty Truyền thông Viettel

GP: Số 351/GP-TTĐT do Sở TT&TT Hà Nội cấp ngày 25/01/2017

Trụ sở: Tầng 4, Tòa nhà The Light, Tố Hữu, Nam Từ Liêm, HN

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Võ Thanh Hải

Hotline: 0965.350.350 – CSKH: 198 (Miễn phí)

Liên hệ quảng cáo: 0969.16.17.18 - Email: hoptac@viettel.com.vn

Các thông tin trên SongKhoe.vn chỉ mang tính chất tham khảo, khi áp dụng phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ.

Chúng tôi tuyệt đối không chịu bất cứ trách nhiệm nào do việc tự ý áp dụng các thông tin trên SongKhoe.vn gây ra.