Thứ Năm | 17/10/2013 | 10:08

Chẩn đoán cơn đau thắt ngực

Chẩn đoán cơn đau thắt ngực

Không thể chẩn đoán xác định qua thăm khám thực thể, nhưng cần chú ý các yếu tố sau:

Xác định tính chất cơn đau. Đặc trưng của cơn đau thắt ngực là: đau từ giữa ngực, cảm giác như bị đè nặng, lan rộng lên hàm, ra sau lưng và ra cánh tay (thường là tay trái).

Xác định sự gia tăng của cơn đau. Đặc trưng của cơn đau thắt ngực là gia tăng khi bệnh nhân gắng sức nhiều hơn, chẳng hạn như leo dốc, đi ngược gió, chịu đựng thời tiết lạnh, làm việc hay luyện tập ngay sau bữa ăn no...

Xác định sự thuyên giảm của cơn đau. Đặc trưng của cơn đau thắt ngực là thuyên giảm khi bệnh nhân nghỉ ngơi hoặc được cho dùng nitrat.

Các yếu tố sau đây làm gia tăng nguy cơ bị cơn đau thắt ngực:

Nam giới trên 50 tuổi.

Nghiện thuốc lá.

Có tiền sử mắc các bệnh mạch vành, tiểu đường, cao huyết áp.

Tăng lipid máu.

Có người thân trong gia đình mắc các bệnh tim mạch (yếu tố di truyền).

Tìm các dấu hiệu của suy tim (như sưng mắt cá chân, khó thở, tăng áp lực tĩnh mạch cảnh) hoặc rung nhĩ.

Xét nghiệm công thức máu toàn bộ để loại trừ khả năng thiếu máu nghiêm trọng.

Điện tâm đồ (ECG, EKG) là bản kết quả hoạt động điện học của cơ tim và có thể phát hiện ra những cơ tim đang cần ôxy. Điện tâm đồ có giá trị trong việc thể hiện những thay đổi của cơ tim do thiếu ôxy gây ra hoặc cơn nhồi máu cơ tim.

Nghiệm pháp gắng sức

Ở những bệnh nhân có điện tâm đồ được đo lúc ở trạng thái nghỉ ngơi bình thường thì việc đo điện tâm đồ khi đang vận động hoặc đang đạp xe đạp có thể là cách tầm soát hữu ích đối với bệnh mạch vành.

Khi thực hiện nghiệm pháp gắng sức (còn được gọi là điện tâm đồ gắng sức), ECG sẽ được đo liên tục trong khi bệnh nhân đang đi trên máy tập chạy bộ hoặc đạp xe đạp tại chỗ và gia tăng độ khó của bài tập dần dần.

Sự xuất hiện của cơn đau ngực trong khi gắng sức có thể tương ứng với những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu ôxy của cơ tim. Khi bệnh nhân nghỉ ngơi thì cơn đau thắt ngực cũng như những thay đổi trên ECG thể hiện sự thiếu ôxy của cơ tim cùng biến mất.

Tính chính xác của điện tâm đồ gắng sức trong chẩn đoán bệnh lý mạch vành ở vào khoảng 60% đến 70%.

Siêu âm tim gắng sức

Là phương pháp phối hợp siêu âm tim với nghiệm pháp gắng sức. Cũng giống như nghiệm pháp thallium gắng sức, siêu âm tim gắng sức chính xác hơn điện tâm đồ gắng sức trong việc phát hiện ra bệnh mạch vành.

Khi động mạch vành hẹp đáng kể, vùng cơ tim được động mạch này cung cấp máu sẽ không co bóp tốt như phần còn lại của cơ tim trong khi gắng sức.

Sự bất thường trong hoạt động co bóp của cơ tim có thể được phát hiện bằng siêu âm tim. Siêu âm tim gắng sức và thallium gắng sức đều có độ chính xác vào khoảng 80% đến 85% trong việc phát hiện bệnh mạch vành ở độ nặng tương đối.

Khi bệnh nhân không thể thực hiện nghiệm pháp gắng sức do những vấn đề thần kinh hoặc cơ xương khớp, các bác sĩ có thể tiêm thuốc vào tĩnh mạch để tạo ra một tình trạng stress cho tim tương tự như khi bệnh nhân đang gắng sức.

Khi đó hình ảnh của tim có thể được ghi nhận lại bằng camera hạt nhân hoặc bằng siêu âm tim.

Thông tim

Thông tim cùng với chụp mạch máu (chụp mạch vành) là một kỹ thuật cho phép chụp lại hình ảnh X quang của các động mạch vành. Nó là loại khảo sát phát hiện ra hẹp động mạch vành một cách chính xác nhất.

Các ống nhựa rỗng nhỏ (catheter) được luồn vào các lỗ mở của các động mạch vành dưới sự hướng dẫn của X quang.

Thuốc nhuộm cản quang Iod sẽ được tiêm vào các động mạch này khi hình ảnh X quang đang được ghi nhận lại. Thủ thuật chụp mạch vành cho phép bác sĩ có được hình ảnh về vị trí và độ nặng của bệnh động mạch vành. Thông tin này có thể quan trọng trong việc giúp bác sĩ lựa chọn được những phương pháp điều trị thích hợp.

Chụp mạch vành qua CT

Là thủ thuật tiêm thuốc nhuộm có chứa iod vào tĩnh mạch rồi sau đó chụp CT để ghi nhận lại hình ảnh của các động mạch vành. Tuy không phải dùng đến các catheter (do đó nó được gọi là một thủ thuật 'không xâm lấn') nhưng nó vẫn ẩn chứa một số nguy cơ, bao gồm:

- Bệnh nhân có thể bị dị ứng với iod.

- Bệnh nhân có chức năng thận bất thường.

- Tiếp xúc với phóng xạ với mức độ tương đương hoặc nhiều hơn so với chụp mạch vành quy ước.

Tuy nhiên, đây vẫn là một khảo sát an toàn cho hầu hết mọi người. Nó là công cụ quan trọng để chẩn đoán bệnh mạch vành ở những bệnh nhân:

- Có nguy cơ bị bệnh mạch vành cao (những người hút thuốc lá, những người có nguy cơ di truyền, có nồng độ cholesterol máu cao, tăng huyết áp, hoặc đái tháo đường).

- Những người thực hiện nghiệm pháp gắng sức hoặc những nghiệm pháp khác cho kết quả nghi ngờ.

- Những người có các triệu chứng gây nghi ngờ đến bệnh mạch vành.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chủ đề liên quan

Báo lỗi

Cơ quan chủ quản: Công ty Truyền thông Viettel

GP: Số 351/GP-TTĐT do Sở TT&TT Hà Nội cấp ngày 25/01/2017

Trụ sở: Tầng 4, Tòa nhà The Light, Tố Hữu, Nam Từ Liêm, HN

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Võ Thanh Hải

Hotline: 0965.350.350 – CSKH: 198 (Miễn phí)

Liên hệ quảng cáo: 0969.16.17.18 - Email: hoptac@viettel.com.vn

Các thông tin trên SongKhoe.vn chỉ mang tính chất tham khảo, khi áp dụng phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ.

Chúng tôi tuyệt đối không chịu bất cứ trách nhiệm nào do việc tự ý áp dụng các thông tin trên SongKhoe.vn gây ra.